Với tư cách là một giảng viên, từng giảng dạy ở nhiều trường đại học và hiện là giảng viên Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp (DLA); là người từng chấm khá nhiều bài thi, khóa luận, luận văn, luận án đã gặp khá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp, nhất là quy cách viết hoa của sinh viên trong nhiều bài thi và khóa luận tốt nghiệp. Do vậy, bài viết này góp phần đề xuất về những quy cách cơ bản viết hoa trong tiếng Việt.

Từ khi có chữ Quốc ngữ là tiếng Việt đã có lối viết hoa. Viết hoa là một thành tựu rất to lớn, một phát minh đầy trí tuệ mở ra khả năng biểu hiện phong phú về nhiều mặt của ngôn ngữ. Bởi hệ thống chữ viết có liên quan chặt chẽ đến âm thanh lời nói, thì chữ hoa cũng nhằm hướng tới yêu cầu đó. Cách viết hoa còn thể hiện nét thẩm mỹ riêng của chữ viết nói chung và kỹ năng của từng người viết nói riêng. Nếu chữ hoa đặt đúng vị trí, viết đúng quy cách chính tả thì người sử dụng lối viết được xem là chuẩn chính tả và có ý thức về mặt ngôn ngữ.

Từ trước năm 1975, trong các văn bản về cú pháp thông thường viết hoa những âm tiết (chữ) đứng đầu ngữ đoạn, đầu câu (sau dấu chấm câu hoặc dấu chấm !), đầu âm tiết của danh từ riêng, nhưng những chữ đệm không viết hoa mà dùng gạch nối như Nguyễn-văn-Tèo, Trần-thị-thanh-Thúy, Sài-gòn, Mỹ-tho, Vĩnh-long...; không viết hoa âm tiết đầu các đơn vị mà sau đó dù là danh từ riêng đi kèm như thành - phố Sài-gòn, trường đại-học văn-khoa Sài-gòn... Đó cũng là quy cách viết hoa của một giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên, quy cách này không mấy thông thoáng và thẩm mỹ, ít nhiều chiếm mất thời gian người viết bởi những dấu gạch nối (-). Bên cạnh đó, sau dấu hai chấm (:) và dấu chấm phẩy là không viết hoa... Nhưng theo quy cách viết hoa ngày nay, có trường hợp sau (:) và (;) có lúc viết hoa âm tiết đầu, có lúc không viết hoa.

Vấn đề này, trong những năm 1978, 1979 các cuộc hội nghị, hội thảo cấp toàn quốc bàn về chuẩn mực chính tả và thuật ngữ khoa học (do Viện Ngôn ngữ học, Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam và Trung tâm Biên soạn sách Cải cách Giáo dục (Bộ Giáo dục) tổ chức tại Hà Nội 7/1978, tại Huế 8/1978, tại TP. Hồ Chí Minh 10/1978 và tại Hà Nội 6/1979). Sau này, nhiều trường đại học cũng tổ chức hội thảo tương tự và những kết luận khoa học cũng chỉ mang tính đề xuất, chưa có văn bản chính thức để phổ biến. Tuy vậy, các nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu đã dựa trên cơ sở đó mà phổ biến ở góc độ công trình của mình như những Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban, Nguyễn Văn Hiệp... Các tác giả thống nhất tương đối cao giữa sự đối lập viết hoa và viết thường, có 4 quy cách cơ bản như sau:

A. Viết hoa về mặt cú pháp

B. Viết hoa tu từ

C. Viết hoa phân biệt danh từ riêng - danh từ chung

D. Viết hoa các tên gọi không phải là danh từ

A. Viết hoa về mặt cú pháp

Viết hoa về mặt cú pháp là cách viết hoa chữ bắt đầu câu, với ý nghĩa phân đoạn cú pháp và phân đoạn ý nghĩa của đoạn văn. Cách viết này còn được thể hiện trên khắp các văn bản từ truyền thống cho đến hiện đại, tiếp theo sau các dấu chấm câu: dấu chấm, chấm lửng, chấm hỏi, chấm than... Dù là danh từ chung được viết hoa, nhưng chúng vẫn giữ được ngữ nghĩa và đây cũng là quy cách viết chữ hoa bắt buộc của chuẩn hóa chính tả tiếng Việt. Ví dụ:

Mưa! Mưa ơi! Mưa!...; Ai đó? Dạ, tôi đây; Trời mưa. Mình về...

Hay là: Chúng ta là người Việt Nam. Bổn phận công nhân phải làm gì cho đất nước? Ôi kìa! Những đáo hoa đẹp...

B. Viết hoa tu từ

Viết hoa tu từ là lối viết đặc tả, mang sắc thái ý nghĩa biểu cảm, muốn biểu hiện riêng hóa cái chung của một từ nào đó một cách có ý thức. Lối viết này, thường đối với các danh từ chung, ý nghĩa tu từ là nhằm biểu đạt các hiện tượng, sự vật, năm, tháng, ngày... có tính chất biểu tượng, chỉ có một mà thôi. Ví dụ: Cách mạng Tháng Tám, đại thắng Mùa Xuân 1975, con Người, cái tên ấy vang lên mới kêu hãnh làm sao!...

Hay là bày tỏ sự tôn kính, quý trọng và xem như chỉ có một:

Người là Cha, là Bác, là Anh

Qủa tim lớn lọc trăm dòng máu đỏ

                                        (Tố Hữu)

Lối viết còn thường gặp ở các danh từ chỉ thứ tự trong quan hệ gia đình, cấp bậc, chức vụ, học vị gắn chặt với tên riêng như một thành phần của tên riêng vậy. Ví dụ: ông Hai Minh, chị Ba Tèo, bác Bảy Bá, chú Năm Cơ, Trung tướng Nguyễn Việt Thành, Thủ tướng Chính phủ, Tổng Bí thư của Đảng, Thầy Hiệu trưởng, Cô Chủ nhiệm...

C. Viết hoa phân biệt danh từ riêng - danh từ chung

Viết hoa phân biệt danh từ riêng - danh từ chung là tên gọi của một người, một vùng đất, là cái riêng chỉ có một mà thôi. Có hai cách viết hoa phân biệt danh từ riêng và danh từ chung.

1) Trước 1975 ở miền Nam, tên người chỉ viết hoa họ và tên, còn chữ lót không viết hoa mà có gạch nối trước và sau nó. Ví dụ: Huỳnh - thúc - Kháng, Nguyễn - hữu - Huân, Lê - thị - trường - An... Còn tên đất thì chỉ viết hoa âm tiết đầu, như: Sài - gòn, Mỹ - tho, Tây - ninh... Từ sau 1975, nhất là từ khi thực hiện các qui định chung về chính tả do Hội đồng chuẩn hóa chính tả và thuật ngữ khoa học ban hành, thì cả tên người và tên đất đều viết hoa các âm tiết. Ví dụ: Nguyễn Thị Thuỳ Trang, Dương Ngọc Lễ, Trần Đình Long... Đồng Nai, Vũng Tàu, Bạc Liêu, Vĩnh Long...

2) Viết hoa danh từ riêng tiếng nước ngoài vào tiếng Việt, căn cứ vào tên riêng ấy đã dịch nghĩa hoặc phiên âm rồi viết hoa các đầu âm tiết như tiếng Việt.
Ví dụ: Biển Đen, Bờ Biển Ngà, Moskva, Tây Hán... [4]

D. Viết hoa các tên gọi không phải danh từ riêng

Viết hoa các tên gọi không phải danh từ riêng là những tên riêng để gọi, thường là các tên cơ quan, đoàn thể, tổ chức, nhà máy, tên riêng các loại hình nghệ thuật... chỉ có một. Không xem các tên gọi này là danh từ riêng, vì chúng không có những tiêu chí đầy đủ của một danh từ riêng trong các thành phần kết hợp cấu trúc từ. Theo khái niệm, danh từ riêng chỉ là cái tên dùng để gọi, không phải là từ dùng để hiểu. Nói khác đi, ở danh từ riêng chỉ có ý nghĩa biểu vật, không có ý nghĩa biểu niệm. Hội đồng chuẩn hóa chính tả và thuật ngữ khoa học Nhà nước đã đưa ra ba cách viết:

1) Viết hoa tất cả các chữ cái đầu các âm tiết. Ví dụ: Công Ty Đại Nam Á, Bộ Giao Thông Công Chính, Nhà Máy Cao Su Sao Vàng Hà Nội...

2) Viết hoa chỉ một chữ cái đầu của âm tiết đầu (nếu có danh từ riêng trong tên gọi cũng viết hoa). Ví dụ: Bộ quốc phòng, Trường đại học sư phạm, Trường phổ thông trung học Lê Quý Đôn...

3) Viết hoa theo từ. Ví dụ: Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Sở Giáo dục & Đào tạo, Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An, Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quận đội...

Song, một thời gian sau đó việc chuẩn hóa được thực hiện tương đối có hiệu quả trong các văn bản hành chính, cũng như ấn phẩm và báo chí nói chung. Nhưng riêng lĩnh vực nghệ thuật còn khá nhiều từ ngữ, tên gọi chưa được thống nhất về cách viết hoa; cùng trong một bài báo hay một văn bản, có lúc viết hoa tên gọi đó, có lúc lại viết thường. Ví dụ, như những Tuồng, Chèo, Tài tử, Cải lương, Hát bội, Chầu văn, Ca ra bộ... (về loại hình). Cò, Kìm, Tranh, Sáo, Sến, Guitar, Bầu, Tam, Gáo, Violon... (về nhạc cụ). Các thể điệu trong âm nhạc cổ truyền như : Khổng Minh toạ lầu, Văn Thiên Tường, Lưu thuỷ trường, Vọng cổ, Tây Thi, Tứ đại oán... (nhạc Tài tử - Cải lương); Bài hạ, Hát tẩu, Hát khách, Hát nam... (Hát Bội); Tứ quí, Đào liễu, Lới lơ, Ru lệ, Làm thảm... (làn điệu của Chèo)...

Căn cứ vào chuẩn chính tả, viết hoa các tên gọi không phải là danh từ riêng thì trước nhất tên gọi Cải lương, Tuồng, Chèo, Tài tử, Chầu văn, Hát xẩm... Theo tiêu chí chính tả, tên gọi nào chỉ có một thì mới viết hoa thì các tên gọi này chỉ khi sử dụng độc lập để biểu vật, chứ không biểu niệm (về nghĩa). Cách viết hoa cũng nhằm khu biệt giữa tên gọi với nghĩa của từ, ví dụ như tên gọi Cải lương là tên của một loại hình nghệ thuật Việt Nam, khác với từ "cải lương" trong từ điển (cải lương với nghĩa chính là cải cách, làm đẹp...); Tuồng là tên một loại hình ca kịch cổ điển của Việt Nam, còn gọi là Hát bội, khác với từ "tuồng" trong tự điển (tuồng tích, vở tuồng...), Tài tử là tên gọi một dòng nhạc truyền thống Nam Bộ khác với từ "tài tử" trong từ điển hoặc từ vựng - ngữ nghĩa (tài tử là chỉ người đàn ông có tài, tài tử là sự tuỳ hứng thích mà tham gia nghệ thuật, thể thao - không chuyên, tài tử là diễn viên điện ảnh, sân khấu, xiếc...)...

Qua những tài liệu khoa học về chuẩn hóa chính tả - cách viết hoa các tên gọi... Hy vọng, sau bài viết này, các sinh viên tự chiêm nghiệm và ứng dụng vào thực tiễn các bài thi (viết) và khóa luận tốt nghiệp hiệu quả hơn. Đó cũng là góp phần thống nhất ý nghĩa viết hoa nêu trên, cũng là ý nghĩa góp phần làm trong sáng và phát triển tiếng Việt trong thời đại mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Quốc Dũng (2014), Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật ca từ Cải lương,
Luận án tiến sĩ (chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ), Trường Đại học KHXH&NV ĐHQG TP. HCM.
2. Nguyễn Kim Thản - Nguyễn Trọng Báu - Nguyễn Văn Tu (2002), Tiếng Việt
trên đường phát triển, Nxb Khoa học Xã hội.
3. Đinh Trọng Lạc (chủ biên) - Nguyễn Thái Hoà (2001), Phong cách học tiếng
Việt, Nxb Giáo dục.