Tin tức chung

Phát huy và bảo tồn văn hóa bản địa trong xã hội học tập ngày nay

 

     Trong nền kinh tế tri thức với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, không ai có thể coi kiến thức của giáo dục ban đầu (từ phổ thông đến đại học) có thể đủ cho cả đời người. Vì vậy, việc tiếp tục học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, là một nhu cầu tất yếu của mỗi người để đáp ứng với sự phát triển của xã hội, của trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại. Xã hội học tập là một xu thế mới trong quá trình phát triển của nhân loại, là đòi hỏi của yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước.

     Học tập thường xuyên, học tập suốt đời, học tập cho mọi người là nội dung chủ yếu của của khái niệm xã hội học tập.Văn kiện của Đảng đã nhấn mạnh "Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người"; xây dựng "Cả nước trở thành một xã hội học tập"; "Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống giáo dục suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người với những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục".

     Có thể nói, xã hội học tập cung cấp các điều kiện, cơ hội để mỗi người tự nâng cao trình độ, hoàn thiện bản thân, phát huy cao độ năng lực sáng tạo để thích ứng với những biến đổi của tình hình kinh tế- xã hội trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa.

     Nền giáo dục trong xã hội học tập hướng vào việc xây dựng cho con người năng lực đón nhận, xử lý, sử dụng, truyền bá… thông tin để xã hội tiến kịp sự phát triển của tri thức nhân loại. Bên cạnh những lợi ích hết sức thiết thực mang lại từ nền giáo dục mở, từ sự hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng với thế giới, mọi người, nhất là giới trẻ, học sinh, sinh viên ít nhiều không tránh khỏi những tác động bởi những mặt trái của cơ chế thị trường, của văn hóa Phương Tây, đó là tư tưởng đề cao chủ nghĩa cá nhân, sự tha hóa về đạo đức, nhân cách, lối sống hưởng thụ, đua đòi, trụy lạc.

     Hơn lúc nào hết, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đang là nhiệm vụ cấp bách trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đó là nền tảng, là cơ sở để đất nước ta hòa nhập sâu rộng với thế giới nhưng không hòa tan, vẫn phát huy được niềm tự hào của dân tộc, bản sắc văn hóa riêng của con người và đất nước Việt Nam.

dai-hoc-long-an-phat-huy-va-bao-ton-van-hoa

 Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An

     1. Văn hóa dân tộc – Văn hóa bản địa

     Văn hóa theo nghĩa chung nhất là tất cả những gì không phải từ thiên nhiên mà từ con người”. Theo UNESCO “Văn hóa là một tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt”. Văn hóa còn được hiểu là tất cả những sinh hoạt của một cộng đồng, một dân tộc bao gồm văn học, nghệ thuật, lễ hội, tôn giáo, phong tục, tập quán, cách cư xử, giao tiếp... Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì là sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo, phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng, toàn bộ những phát minh đó là văn hóa”.Trong khái niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nét đặc trưng cơ bản nhất của văn hóa chính là sự sáng tạo và phát minh, tức là “ tạo ra những giá trị mới về vật chất, tinh thần và tìm ra cái có ý nghĩa, có giá trị lớn cho khoa học và cho loài người. Những giá trị đó tạo nên cốt lõi, bản sắc văn hóa dân tộc. Nói một cách khác, văn hoá bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra nhằm mục tiêu phục vụ con người. Bản sắc dân tộc của văn hoá là các giá trị đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, phẩm chất và bản lĩnh của mỗi nền văn hoá. Đối với Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện tập trung ở lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, đạo lý trọng nghĩa tình, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…".

      2. Giáo dục việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

     Các nhà sử học đã thống nhất cho rằng: Việt Nam có một cộng đồng văn hóa khá rộng lớn được hình thành vào khoảng nửa đầu thập niên kỷ thứ nhất trước công nguyên và được phát triển rực rỡ vào giữa thập niên kỷ này, đó là cộng động văn hóa Đông Sơn. Các con đường phát triển khác nhau của văn hóa bản địa thuộc các khu vực khác nhau đã hội tụ lại, họp thành văn hóa Đông Sơn. Đây chính là nhà nước mang tính “phôi thai” ra đời, từ đó các bộ lạc nguyên thủy phát triển thành dân tộc.

     Có thể nói toàn bộ lịch sử của văn hóa bản địa Việt Nam đã tồn tại 3 lớp văn hóa chồng lên nhau, đó là văn hóa bản địa, văn hóa giao lưu với Trung Quốc và lớp văn hóa giao lưu với phương Tây. Mặc dù giao lưu với các nền văn hóa khác, văn hóa của dân tộc Việt Nam đã trải qua biết bao thử thách, chẳng những vẫn tồn tại vững chắc mà còn không bị văn hóa ngoại lai đồng hóa, biết “Việt hóa” các ảnh hưởng đó để làm giàu cho nền văn hóa dân tộc. Trách nhiệm của chúng ta ngày nay là phải tiếp tục, giữ gìn, bảo vệ và giáo dục cho lớp lớp con cháu để dân tộc ta mãi mãi là dân tộc Việt Nam. Chúng ta cần lồng ghép những chuyên đề về truyển thống văn hóa dân tộc vào chương trình giảng dạy để giáo dục đạo đức, tư duy, lối sống và bản lĩnh cho sinh viên để các em vào đời với đầy đủ hành trang của người công dân tốt, thông minh, cần cù, sáng tạo, có tính kỷ luật cao mang dáng dấp, tinh hoa của người Việt Nam sẵn sàng đi lên phía trước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

     3. Giáo dục lòng yêu đất nước, yêu đồng bào, tự hào dân tộc

Lòng yêu đất nước là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, đó là tình cảm sâu sắc đối với quê hương, đất nước được nối tiếp qua nhiều thế hệ người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Cùng với lòng yêu nước, một nét văn hóa đặc sắc của dân tộc ta, đó là tình yêu đồng bào, tình yêu thương đồng loại, vì hạnh phúc, sự phát triển toàn diện và hài hòa của con người. Chủ nghĩa nhân đạo, bao gồm trong nó tình yêu thương giữa con người với con người, của người lớn đối với trẻ em, của người trẻ đối với người già, của người khỏe mạnh, lành lặn đối với người ốm đau, tàn tật, của người có hạnh phúc với người bất hạnh, đặc biệt đó còn là thái độ đối xử với kẻ thù, không kêu căng, không công thần, không kiêu binh v.v...Lòng yêu nước, yêu đồng bào tạo nên sức mạnh của dân tộc, giúp cho sự thống nhất ý chí, trí tuệ, tài năng của các cá nhân trong cộng đồng xã hội, tạo nên sức mạnh to lớn để ứng phó với mọi khó khăn, với nguy cơ trước kẻ thù xâm lược. Những nét văn hóa đặc sắc vừa nêu trên đã có từ ngàn xưa, duy trì, phát triển cho đến ngày nay, đòi hỏi chúng ta phải biết trân trọng, bảo vệ và phát huy trong hoàn cảnh mới và coi đó là nét văn hóa đặc sắc cần giáo dục cho các thế hệ mai sau.

      4. Tôn trọng, giữ gìn, phát huy giá trị các di sản văn hóa

     Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân hết sức quan tâm đến việc giữ gìn các di sản văn hóa dân tộc, từ đó tạo tiền đề cần thiết để làm sống dậy một tiềm năng văn hóa, coi đó như là nguồn lực bên trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) đã chỉ rõ: “ Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa”. “Coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”.

     Hiện nay, các di tích như quần thể Cố đô Huế, Thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng Long, Thánh địa Mỹ Sơn, ... đã được tổ chức UNESCO công nhận là những di sản văn hóa thế giới, tuy nhiên giá trị, ý nghĩa sâu sắc của những di sản đó vẫn chưa được quảng bá một cách sâu rộng đến đại bộ phận công chúng nhằm tôn vinh và lưu truyền những giá trị lịch sử vô giá đó. Một trong những giải pháp mang tính lâu dài và bền vững là thông qua giáo dục. Giáo dục chính là kênh truyền thống có tính hiệu quả cao nhất, đặc biệt là giáo dục đại học.Thông qua những hoạt động ngoại khóa, những chương trình lồng ghép trong các môn học, dần dần đưa những giá trị cốt lõi, hồn dân tộc của các di sản văn hóa đến từng sinh viên để các em có nhận thức đầy đủ, sâu sắc và từ đó có những hành động, việc làm góp phần gìn giữ, phát huy giá trị các di sản văn hóa của đất nước.

      5. Duy trì và bảo vệ văn hóa làng xã

     Suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, chúng ta có thể tự hào mà nói rằng, văn hóa bản địa, văn hóa làng xã là tài sản vô giá của dân tộc cần phải được giữ gìn, phát huy trên cơ sở sàng lọc, loại bỏ những gì phi văn hóa, duy trì và làm phong phú thêm những nét đep văn hóa vốn có. Bên cạnh lũy tre, cây đa, bến nước thì những làn điệu dân ca, điệu múa, câu hò, bài vè, ca dao, tục ngữ ... luôn tồn tại, phát triển cùng những thăng trầm của lịch sử dân tộc. Một trong những truyền thống tốt đẹp khác của nhân dân ta đó là lòng thành kính, tôn thờ tổ tiên, ông bà, hiếu thảo đối với cha mẹ, thể hiện lòng biết ơn những người đã sinh thành dưỡng dục mình. Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, kính trọng, lễ phép với người lớn tuổi, đề cao vai trò người phụ nữ... cũng là những nét văn hóa truyền thống của nhân dân ta. Thực chất những nét văn hóa, truyền thống đó mang trong bản thân nó, ý nghĩa nhân văn hết sức sâu sắc, có sức nêu gương trong mỗi gia đình, trong cộng đồng làng xã. Tất cả những đức tính trên vô cùng cao quý và luôn được người Việt Nam giáo dục dạy dỗ cho con cháu từ tuổi nhỏ đến khi trưởng thành. Từng người Việt đã và phải “ngấm” thật sâu, thật bền dòng chảy truyền thống văn hóa dân tộc này.

     6. Giáo dục lòng yêu thiên nhiên

     Lòng yêu thiên nhiên, thái độ gìn giữ, bảo vệ thiên nhiên là biểu hiện của đạo đức, là nét văn hóa đã tồn tại từ ngàn xưa của dân tộc ta. Ngày nay, diện tích rừng ngày càng thu hẹp, số lượng động vật hoang dã ngày càng ít đi, khí hậu không ngừng thay đổi thất thường là hậu quả của việc khai thác rừng quá mức, không bảo tồn thiên nhiên mà chính con người đã tự mình gây ra. Đã đến lúc phải dừng ngay” việc vay mượn tài nguyên của thế hệ con cháu”. Phải giáo dục cho thế hệ trẻ, các học sinh sinh viên về tình yêu thiên nhiên, quý trọng những gì mà thiên nhiên mang lại cho con người.

     Mỗi một dân tộc bao giờ cũng có những sắc thái văn hóa đặc thù, phản ánh những phong cách, diện mạo của chính dân tộc đó. Khi một dân tộc quay lưng với truyền thống, đánh mất bản sắc văn hóa của dân tộc mình, nhất định sẽ không tồn tại. Xuất phát từ thực tế đó, Đảng ta coi việc xây dựng và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài của quá trình phát triển đi lên của đất nước. Mỗi người Việt Nam, nhất là đối với thế hệ trẻ những người chủ tương lai của đất nước phải luôn giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đó cũng là thể hiện trách nhiệm đối với đất nước.

     Tóm lại, hiện nay song song với nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, việc xây dựng nền văn hóa văn minh hiện đại, trong đó bảo tồn và phát huy văn hóa bản địa là việc làm vô cùng cần thiết trong hệ thống giáo dục Việt Nam, đặc biệt trong giáo dục đại học hiện nay. Những trí thức Việt Nam trong thời đại CNH-HĐH của nền kinh tế tri thức toàn cầu phải là những hiền tài, nguyên khí của quốc gia, mang đầy đủ bản lĩnh, bản sắc và tinh hoa của dân tộc Việt. Phải làm sao để các giá trị truyền thống của 4.000 năm văn hiến lan tỏa thành giá trị đặc thù của nền văn hóa Việt. Đội ngũ tri thức Việt Nam được đào tạo từ trường đại học, từ xã hội sẽ nổi lên như những bông hoa tươi thắm đặc sắc trong nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập ngày nay.

     Trên cơ sở các tiêu chí trên, Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An xây dựng một chương trình vừa lý thuyết, vừa ứng dụng thực tế tạo cho sinh viên đủ hành trang vào đời với phong cách của những tri thức Việt Nam hiện đại, đầy khả năng triển vọng sẵn sàng đáp ứng các điều kiện làm việc trong môi trường luôn thay đổi, biến động hiện nay. Đó cũng là thực hiện tiêu chí cam kết của trường “ Tri, hành, đạt, nhân”.

 

TS. Lê Đình Viên

(Hiệu trưởng Trường Đại học KTCN Long An)

 

Tri hành đạt nhân