ThS. Phạm Diệp Ba

Nguồn nhân lực là một thành tố căn bản trong những nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia. Với nguồn nhân lực được đào tạo chuẩn mực, có tay nghề cao, chuyên môn sâu sắc sẽ mang lại những bứt phá lớn cho quá trình phát triển toàn diện nền kinh tế.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm 12 tỉnh và một thành phố với tổng diện tích là 40.518,5 km2, dân số 17.231.400 người, một vùng đất màu mỡ, phì nhiêu, nhiều tiềm năng phát triển, có vị trí địa lý kinh tế thuận lợi. ĐBSCL có một phía tiếp giáp Thành Phố Hồ Chí Minh và miền Đông Nam bộ- nơi trung tâm công nghiệp của cả nước, một phía tiếp giáp biển Đông- ví như căn nhà mặt tiền, điều kiện thuận lợi để phát triển giao lưu kinh tế với các nước trong khu vực bằng đường biển và một phía tiếp giáp với Campuchia cửa ngõ giao lưu kinh tế với các nước trên bán đảo Đông Dương.

Đã bao đời nay, ĐBSCL được xem là vùng trọng điểm kinh tế của cả nước. Là vùng luôn đứng đầu cả nước về sản xuất và xuất khẩu gạo, thủy sản, trái cây. Và cũng là khu vực đứng thứ ba về tỷ trọng đóng góp GDP trong toàn quốc. Thế nhưng, ĐBSCL cũng là vùng để lại một thực trạng là “vùng trũng” về giáo dục- đào tạo. Là vùng xếp ở vị trí cuối cùng về tỷ lệ học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông trên 1.000 người dân. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với mức bình quân chung của cả nước, mạng lưới trường lớp còn thiếu, chưa hợp lý; số lượng các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề quá ít; đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng... Giáo dục– đào tạo vùng ĐBSCL đã tụt hậu 5 năm so với mặt bằng chung của cả nước và ít nhất 10 năm so với vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ; quy mô giáo dục- đào tạo chưa tương xứng với tầm vóc và vị trí chiến lược của vùng trọng điểm kinh tế. (Nguồn: Hội nghị “Phát triển giáo dục và đào tao vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010 và định ướng đến năm 2020” được tổ chức tại Cần Thơ tháng 8 năm 2005).

Cùng với sự phát triển chung của cả nước trong những năm qua, với một thời gian rất dài, ĐBSCL được coi là vùng trũng về giáo dục- đào tạo của cả nước, điều này còn được thể hiện qua tỷ lệ người lao động đã qua đào tạo cũng luôn thấp nhất so với cả nước. Theo số liệu Tổng Cục Thống kê năm 2013 lực lượng lao động của vùng ĐBSCL là 10.329.900, chiếm 19,4% trong lực lượng lao động của cả nước, đứng thứ hai sau Đồng bằng sông Hồng. Trong đó, lực lượng tham gia lao động là 77,2%, tỷ lệ này, thấp nhất trong 6 vùng kinh tế trên cả nước. Trong khi đó, tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo trung bình của cả nước năm 2013 là 17,9%. Tỷ lệ này của cả vùng ĐBSCL cũng chỉ đạt 10,4%, là mức thấp nhất so với cả nước. Nếu so sánh với khu vực có cùng mức dân số tương đương với ĐBSCL thì tỷ lệ lao động đã qua đào tạo năm 2013 của khu vực Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung là 16,4%, tỷ lệ này vẫn cao hơn vùng ĐBSCL.

Thực trạng này, còn để lại một hệ lụy đó là, trong nhiều năm gần đây, tiền lương bình quân của người lao động, người làm công ăn lương ở ĐBSCL được đánh giá là thấp nhất so với các vùng kinh tế trong cả nước. Theo số liệu thống kê tính đến ngày 01/7/2014 tiền lương bình quân người lao động, người làm công ăn lương nhận được ở ĐBSCL là 3.323.000đ/người/tháng. Mức lương này thấp hơn cả khu vực Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, nơi đã từng được xem là vùng không có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế- xã hội đến hơn 600.000đ/người/tháng. Trong khi đó, mức lương bình quân của cả nước là 4.335.000đ/người/tháng và nói riêng ở khu vưc thành phố Hồ Chí Minh là 5.482.000đ/người/tháng, nơi cao nhất là Hà Nội với 5.504.000đ/người/tháng. Với thực trạng về tỷ lệ lao động đã qua đào tạo thấp như vậy cho thấy, chất lượng lao động của vùng còn thấp, chưa đáp ứng được nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế- xã hội. (Nguồn: Báo cáo Điều tra lao động việc làm quý II năm 2014 của Tổng cục Thống kê, 2014, trang 38)

Trong lực lượng sản xuất, một khi lao động đã qua đào tạo, lao động có kỹ năng- tay nghề, được đào tạo chuyên sâu thì đó chính là nguồn nhân lực có chất lượng cao, là tiền đề cho sự “phát triển nhanh và bền vững”. Không gì hơn, để có được sự phát triển nhanh và bền vững thì “giáo dục là quốc sách” theo nghĩa đó, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”. Trên cơ sở đó mới có khả năng nâng cao thu nhập cho người lao động và đáp ứng được nhu cầu về số lượng lao động, chất lượng lao động và nhất là trong dịch chuyển cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành - nghề, trước sự bùng phát về cuộc cách mạng khoa học, công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới. Hiện nay, khoa học và công nghệ đã trở thành "lực lượng sản xuất trực tiếp", đặc biệt là trong thời đại bùng nổ của cách mạng khoa học – công nghệ với đặc trưng là sự thay đổi rất nhanh, thời gian ra đời cho một phát minh, sáng kiến được rút ngắn lại với quy mô và phạm vi ứng dụng của nó ngày càng mở rộng ra, những thành tựu của công nghệ hiện đại ngày càng áp dụng vào trong quá trình sản xuất và quản lý sản xuất.
Qua đây, sử dụng lao động chưa qua đào tạo, chất lượng lao động chưa cao, năng suất lao động thấp là một trong những nguyên nhân dẫn đến thu nhập của người lao động, người làm công ăn lương ở ĐBSCL còn thấp. Theo đó, sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế và kinh tế vùng chưa phát triển, dẫn đến sự phát sinh về số lượng doanh nghiệp, cùng với nhu cầu về lao động trong khu vực sẽ không nhiều. Với lẽ đó, vô tình đã rớt vào quy luật “nhân khẩu thừa” dẫn đến tình trạng “thiếu việc làm” mà “thừa lao động”. Và đó cũng là nguyên nhân chính đẫn đến thu nhập của người lao động, người làm công ăn lương không cao.

Với thực trạng này, mặc dù ĐBSCL có lược lượng lao động với tiềm năng rộng lớn, thế nhưng số lượng lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất thấp, lao động chưa qua đào tạo còn quá nhiều, bức bách đòi hỏi nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực rất cao, đòi hỏi phải có sự thay đổi căn bản, toàn diện và hơn thế cần có sự xã hội hóa về giáo dục và đào tạo trong khu vực.

Đứng trước nhu cầu bức bách về nguồn nhân lực ở ĐBSCL, ngày 20/1/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 20/2006/QĐ-TTg về phát triển giáo dục, đào tạo dạy nghề vùng ĐBSCL đến năm 2010 với mục tiêu: ...“1) Nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lưc của vùng ĐBSCL để phát huy sức mạnh của vùng, tạo bước đột phá trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng vùng ĐBSCL phát triển kinh tế toàn diện, bền vững, trở thành một vùng kinh tế trọng điểm của cả nước với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao”...“2) Phấn đấu đến năm 2010 chỉ số phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề của ĐBSCL ngang bằng chỉ số trung bình của cả nước”...

Quyết định số 20 cũng đưa ra các chỉ tiêu cơ bản để đảm bảo chỉ số giáo dục, đào tạo của cả vùng đến năm 2010... “Về giáo dục nghề nghiệp: Tăng chỉ tiêu tuyển mới đào tạo trung cấp chuyên nghiệp hàng năm để quy mô đào tạo trung cấp chuyên nghiệp chiếm khoảng 5% dân số từ 16 đến 20 tuổi...; Về giáo dục đại học: Đạt tỷ lệ bình quân 150 sinh viên/1 vạn dân...(Nguồn: trích QĐ số 20/2006/QĐ-TTg ngày 20/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ). Riêng tỉnh Long An, chỉ tiêu này là: “Sinh viên cao đẳng, đại học đạt 200 sinh viên/1 vạn dân”.

Để thực hiện được chỉ tiêu này, nhận thức được đầy đủ về sự bức bách đối với sự phát triển nguồn nhân lực ở ĐBSCL nói chung, ở tỉnh Long An nói riêng và triển khai thực hiện Quyết định số 20 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 04/5/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 542/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An.

Với tinh thần Quyết định số 20 của Thủ tướng Chính phủ, nói riêng trong lãnh vực giáo dục đại học và cao đẳng, năm học 2014- 2015 ở vùng ĐBSCL có 43 trường đại học và cao đẳng. Trong số đó có 17 trường đại học và có 6 trường đại học ngoài công lập (chiếm tỷ lệ 14%), 26 trường cao đẳng. Riêng trong 5 năm, từ năm 2011- 2015 khu vực ĐBSCL đã thành lập thêm 6 trường, trong đó có 4 trường đại học và 2 trường cao đẳng. Với số lượng trường này, quy mô sinh viên chính quy của cả vùng ĐBSCL là 130.896 sinh viên, trong đó đại học là 86.230 sinh viên, cao đẳng là 44.666 sinh viên.

Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An, kể từ khi thành lập, đến nay đội ngũ cán bộ giảng viên nhân viên của Trường là 422 người, trong đó có 166 nữ, toàn Trường có 33 cán bộ quản lý, trong đó có 16 nữ. Về chất lượng đội ngũ giảng viên: Giảng viên cơ hữu đạt trên chuẩn là 68 giảng viên, giảng viên đạt chuẩn là 251 giảng viên và không có giảng viên chưa đạt chuẩn. Ngoài ra, Trường còn quan tâm tạo điều kiện về thời gian, hỗ trợ một phần kinh phí cho 32 CB- GV- CV của Trường đi học sau đại học để nâng cao trình độ, trong đó có 2 nghiên cứu sinh, 30 cao học, trong số này nay đã tốt nghiệp 18 thạc sĩ. Đặc biệt năm 2013 Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước công nhận 01 PGS đầu tiên và năm 2016, có 02 Phó Hiệu trưởng Trường đó là TS.Đặng Thị Phương Phi và TSKH. Lê Đình Tuấn được Hội đồng chức danh Nhà nước công nhận. Ngoài ra, nhà Trường còn mời nhiều cộng sự trực tiếp tham gia giảng dạy. Đội ngũ cộng sự này gồm 25 giảng viên có học hàm PGS.TS, tiến sĩ. Các vị này, hiện đang trực tiếp tham gia đào tạo đại học và sau đại học tại Trường. Đội ngũ cộng sự của Trường đều hiện đang làm việc ở các trường đại học lớn trong cả nước, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An và các vùng lân cận, các Viện nghiên cứu Trung ương, địa phương và thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 2014 Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép mở thêm mã ngành đào tạo đại học ngành Kiến trúc; đào tạo trình độ Thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp.

Đến năm 2015 nhà Trường lại tiếp tục được Bộ Giáo dục- Đào tạo cho phép đào tạo trình độ Thạc sĩ chuyên ngành Tài chính- Ngân hàng và còn được Cục Phát thanh Truyền hình và Báo chí- Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép hoạt động Trang Thông tin điện tử Tổng hợp Kinh tế Công nghiệp.

Đến năm 2016 nhà Trường tiếp tục được Bộ Giáo dục- Đào tạo cho phép đào tạo trình độ Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh.

Về kết quả đào tạo: Tháng 01/2012 Trường làm lễ trao bằng tốt nghiệp cho 1.565 sinh viên đại học khóa 1, cao đẳng khóa 2 và 548 HS tốt nghiệp TCCN dưới sự chứng kiến của GS- TS. Phạm Vũ Luận- Bộ trưởng Bộ GDĐT và Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Long An và nhiều lãnh đạo Trung ương, địa phương.
Cũng tiêu chí này, tính riêng 5 năm, từ năm 2012 đến năm 2017: Năm học 2012- 2013 lần đầu tiên nhà Trường tổ chức thi tuyển sinh cao đẳng, đại học khối A, A1, D1 và xét tuyển sinh nguyện vọng 1. Trong kỳ thi này, tuy chưa đạt kết quả mỹ mãn, nhưng chất lượng tuyển sinh được nâng lên, nhiều thí sinh có học lực khá, giỏi đã chọn nhà Trường và thi đỗ vào Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An.

Và 3 năm tiếp theo (2014, 2015, 2016), cùng với những thăng trầm của các trường đại học ngoài công lập trong công tác tuyển sinh, Trường đã tổ chức thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo đề án 3 chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo; đồng thời xây dựng Đề án tuyển sinh riêng của Trường đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt. Với đề án này nhà Trường triển khai thực hiện năm học 2014- 2015. Và cũng trong thời gian này, nhà Trường cũng tích cực chuyển hướng sang liên kết đào tạo, thực hiện liên kết đào tạo đại học và cao học với các trường đại học như: Đại học Vinh, Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Luật- Kinh tế Luật TP. HCM, và Đại học Duy Tân. Tổng số HSSVHV các hệ đào tạo liên kết là trên 6.000 lượt HSSV,HV/năm. Trong đó, học viên cao học của Trường là 592 HV. Và liên kết đào tạo cao học thuộc các chuyên ngành quản lý giáo dục-đào tạo, QTKD với Đại học Vinh và Đại học Duy Tân đạt 498 học viên.

Tính đến nay, tổng số HSSV được đào tạo tốt nghiệp ra trường là 8.534 cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ, công nhân lao động trung cấp một số ngành nghề. Trong đó có 158 học viên cao học đã tốt nghiệp Thạc sĩ thuộc các chuyên ngành quản lý giáo dục- đào tạo. Các học viên tốt nghiệp cao học này đều là cán bộ quản lý và là giảng viên đang công tác trong ngành Giáo dục- Đào tạo của 3 tỉnh Tiền Giang, Long An, Bến Tre.

Về việc làm của HSSV-HV sau tốt nghiệp: Qua kết quả khảo sát của Trường sau tốt nghiệp ra trường 1 năm trong số 8.534 HSSV-HV các hệ đào tạo, tỷ lệ HSSV-HV có việc làm khoảng 72%, trong đó HSSV- HV làm việc ở các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước 24,4%, làm việc theo đúng ngành nghề đào tạo bình quân khoảng 29%; làm việc ở Công ty TNHH, Công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân 52,3%; làm việc ở các công việc ngoài xã hội 20%; làm việc cho cơ sở kinh doanh hộ gia đình 3,3%. Nhiều cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước cấp tỉnh, huyện có sinh viên và học viên của Trường làm việc như: Công an tỉnh, Công an các địa phương, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, Ban chỉ huy Quân sự các địa phương, VP.UBND tỉnh, VP. UBND các huyện, thành phố Tân An, thị xã Kiến Tường và các địa phương, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ, Kho bạc Nhà nước tỉnh và các địa phương; Cục Hải quan, Cục Thuế tỉnh, Chi cục Thuế các địa phương, Tỉnh Đoàn và các Huyện/Thị/Thành Đoàn, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh, Bưu điện Tỉnh và các Huyện/Thị/Thành phố, Viễn thông Long An, Ban quản lý dự án tỉnh, Ban Quản lý các Khu kinh tế tỉnh, ... Các Ngân hàng: Ngân hàng Nhà nước tỉnh, Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Vietcombank, VP bank, Sacombank, Techcombank, Vietbank, SaiGonbank,...

Về quy hoạch đào tạo: Sinh viên tốt nghiệp đại học khóa 1,2,3,4,5,6 từ năm 2011 đến 2016 có khoảng 72%, được đào tạo theo địa chỉ. Đó là các cán bộ quy hoạch của các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế và cả cấp phường, xã, đặc biệt là SV Khoa Ngoại ngữ chiếm tỷ lệ 74%. Vì thế, tốt nghiệp ra trường các tân cử nhân, tân kỹ sư đều có việc làm thỏa đáng.

Riêng SV hệ cao đẳng, tốt nghiệp khóa 1,2,3,4,5,6,7 từ năm 2010 đến 2016 cũng có khoảng 70%, được đào tạo theo địa chỉ, khi tốt nghiệp ra trường các em đều có việc làm, đặc biệt là SV khoa Ngoại ngữ và Công nghệ Thông tin đạt 72%. Số còn lại đa số các em tiếp tục học liên thông lên đại học và số ít làm việc ngoài xã hội. Với các em tốt nghiệp TCCN, tỷ lệ đi làm khoảng 32%, các em này đều làm công nhân ở các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, số còn lại hầu hết các em đều học liên thông lên cao đẳng.

Về loại hình đào tạo: Thực chất, Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An là trường đại học tư thục, hay còn gọi là đại học dân lập. Đó là một cơ sở giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.Về mặt tuyển sinh và đào tạo thì dù là trường tư thục nhưng vẫn tuân thủ theo quy chế của Bộ GD&ĐT. Văn bằng của trường tư thục có giá trị tương đương như văn bằng của trường công lập. Trường tư thục do cá nhân hoặc tổ chức trong một nước xin phép thành lập và tự đầu tư. Trường tư thục không giống những trường đại học công lập, cụ thể, trường đại học tư thục không nhận được sự hỗ trợ về vốn của Nhà nước. Mà nguồn tài chính để hoạt động của loại hình này là khoản thu từ học phí của sinh viên theo học tại trường, của khách hàng và các khoản hiến tặng. Thực tế, mô hình trường đại học tư thục hiện nay phổ biến hầu hết ở mọi quốc gia như: Bangladesh, Brasil, Trung Quốc, Chile, Ai Cập, Ấn Độ, Indonesia, Ireland, Nhật Bản, Malaysia, México, Pakistan, Hàn, Mỹ, Việt Nam... Trong đó có một số trường đại học tư thục lâu nay được xếp vào hạng tiêu biểu hàng đầu trên thế giới như: Massachusetts Institute of Technology (M.I.T), Stanford University, Harvard University, Yale University, Princeton University, Columbia University, University of Chicago, Washington University in St. Louis.

Mặc dù ở đây cũng có sự khác biệt, phân biệt về loại hình đào tạo, công lập- tư thục. Thế nhưng, với sự đóng góp của sinh viên tốt nghiệp ra trường đều là sự hòa quyện lẫn nhau, sát cách bên nhau cùng xây dựng phát triển nền kinh tế- xã hội. Nhà trường xếp loại học sinh, sinh viên bằng điểm, xã hội xếp hạng người lao động bằng năng lực công tác, kỹ năng chuyên sâu và tay nghề, năng lực nhận thức, năng lực thao tác của tư duy. Như vậy với việc đào tao nguồn nhân lực chất lượng cao đóng góp cho sự phát triển kinh tế, xã hội trong khu vực ĐBSCL nói chung, cho tỉnh nhà nói riêng thì hoàn toàn không thể phân chia hoặc có giới hạn về sự cách ngăn trong lực lượng sản xuất, giữa cái được gọi là đào tạo theo loại hình công lập hay tư thục. Mà tất cả đều là lực lượng sản xuất đã được xã hội hóa, đã qua đào tạo; xã hội hóa về tay nghề, xã hội hóa về nhận thức, thì ví như một cây đờn đang cùng được lên căng thêm mộ cung độ, cùng quyện lẫn vào nhau, hòa nhịp cùng nhau trong bản thiên anh hùng ca xây dựng thành công nền công nghiệp hóa- hiện đại hóa nước nhà.

Luận điểm này, thực tiễn cũng đã cho thấy, dù xuất phát điểm từ một loại hình đào tạo nào đi chăng nữa thì tất cả đều cùng chung một chuẩn mực. Đó là, đào tạo được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát quản lý, của Bộ Giáo dục- Đào tạo về “chương trình”, “mục tiêu đào tạo” như một thể thống nhất, một khuôn mẫu chuẩn mực. Và chính thể thống nhất này với khuôn mẫu chuẩn mực này hình thành nên tư chất của thành tố lao động. Lao động đã qua đào tạo, lao động có kỹ năng, tay nghề chuyên sâu, cùng đóng góp cho sự phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Long An nói riêng ở ĐBSCL nói chung.

Qua đây cho thấy, cùng với sự nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà Trường, sự cố gắng học tập, rèn luyện của các em học sinh sinh viên học viên, cũng như sự hỗ trợ tích cực của các cơ quan, Ban, Ngành, Đoàn thể, doanh nghiệp, cùng với khả năng làm việc với kỹ năng chuyên môn sâu và chuẩn của sinh viên sau khi tốt nghiệp; mặc dù xuất xứ từ một trường tư thục, cũng đã có những bước đóng góp khiêm tốn trong sự phát triển nguồn nhân lực tỉnh nhà và các tỉnh lân cận trong khu vực.

Với chủ trương, đường lối đúng đắn về sự phát triển nguồn nhân lực ĐBSCL của Thủ tướng Chính phủ và sự chỉ đạo, quyết tâm thực hiện của Bộ Giáo dục- Đào tạo, với sự quyết tâm cao, đồng lòng đoàn kết của tập thể cán bộ giảng viên Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An đã đào tạo và cung cấp số lượng không nhỏ nguồn lao động có chuyên môn tay nghề, chất lượng cho các cơ quan Nhà nước, các đơn vị, các địa phương, một số doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong tỉnh và ngoài tỉnh. Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An góp phần cùng tỉnh Long An thực hiện thắng lợi chỉ tiêu tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo và tăng tỷ lệ sinh viên trên vạn dân, từ 98 SV/vạn dân năm 2007 lên 187 SV/vạn dân năm 2017. Theo số liệu từ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Long An trước đây, hàng năm số học sinh của tỉnh thi đậu vào các trường đại học và sinh viên tốt nghiệp trở về địa phương làm việc còn thấp (khoảng 300- 500 HSSV), từ khi có Trường Đại học Kinh tế công nghiệp Long An tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng dần dần tăng lên. Theo số liệu này thì hầu hết SV tốt nghiệp đều muốn làm việc tại tỉnh nhà, với lợi thế khu vực, vừa ít tốn kém chi phí, vừa phục vụ tốt nhu cầu lao động của địa phương.

Qua đây, kể từ khi có Quyết định số 20, trong 10 năm qua các trường đai học tư thục trong vùng nói chung và Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An nói riêng đã đóng góp tích cực góp phần nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng lao động tại ĐBSCL nói chung và tỉnh Long An nói riêng. Mặc dù chất lượng sinh viên đầu vào của các trường đại học tư thục, xét về tổng thể thì thuộc tốp sinh viên có học lực yếu hơn so với số sinh viên đầu vào của các trường công lập, nhất là các trường có truyền thống đã xác lập được danh tiếng như: Đại học bách khoa, Đại học Kinh tế, Y, Dược...

Bằng lương tâm nghề nghiệp, bằng quyết tâm đào tạo thế hệ trẻ, đào tạo con em Tỉnh nhà thành những trí thức trẻ, thành những lao động có kỹ năng, chuyên môn cao, trong 10 năm qua Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An đã đào tạo theo hướng “thực hành”, với mô hình đại học “cộng đồng” Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An đã đào tạo gần 10.000 lao động có chuyên môn cao. Trong đó có hàng ngàn viên chức đã và đang công tác trong hệ thống chính quyền các cấp, với các bậc học, cao đẳng, đại học và sau đại học, với hàng ngàn kỹ sư, cử nhân thuộc các ngành, nghề với trình độ chuyên môn sâu sắc, xã hội hóa về lao động, kiến thức nhất định, đóng góp tích cực, từng bước tăng năng suất lao động trong khu vực, góp phần trực tiếp làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế vùng, phát triển kinh tế khu vực.

Trong bối cảnh chung của các trường đại học tư thục, Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An cũng đã và đang từng bước chuyển mình, tìm ra những bước đi, hướng phát triển phù hợp; chủ động, tích cực trong dạy và học, từng bước đưa Trường ngày một phát triển lên tầm cao mới đáp ứng sự tin tưởng của tỉnh nhà. Mong rằng Chính phủ sớm có nhiều giải pháp hỗ trợ hơn nữa để ngày một thu hẹp khoảng cách công lập- tư thục, để khối trường đại học tư thục nói chung, Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An nói riêng được “bình đẳng” vươn lên, ngày một xứng tầm trong khu vực, góp phần tích cực, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp giáo dục- đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ở ĐBSCL.